Một quyển sách
đã truyền cảm hứng cho hơn 300 triệu người
thoát khỏi Đảng Cộng sản Trung Quốc

Chương 11: Nghệ thuật – Từ ca ngợi Thần đến khinh nhờn Thần

Mục lục
1. Nghệ thuật là Thần truyền cho con người
2. Ảnh hưởng to lớn của nghệ thuật đối với nhân loại
3. Sự phá hoại và lợi dụng nghệ thuật của tà linh cộng sản 
3.1 Quốc gia đảng cộng sản lợi dụng và khống chế đối với nghệ thuật
3.2 Tà linh cộng sản ở đằng sau nghệ thuật tiên phong
3.3 Coi xấu thành đẹp, làm điên đảo thẩm mỹ quan truyền thống
3.4 Tà linh cộng sản lợi dụng văn học để huỷ diệt nhân loại
Lời kết

=========

1. Nghệ thuật là Thần truyền cho con người

Nhân loại tìm hiểu về “Mỹ học” nhiều như sách vở chất đầy trong nhà. Những người tin vào Thần biết rằng, mọi thứ đẹp nhất là đến từ thế giới thiên quốc. Nghệ thuật cao thâm đều gắng sức mô phỏng và triển hiện cái đẹp của thiên quốc tại cõi người. Có những từ vựng nghệ thuật là từ những danh từ của Thần liên quan trực tiếp diễn biến mà ra. Nếu như người nghệ sĩ ở một lĩnh vực nào đó có thể đắc được gợi ý hoặc gia trì của Thần, thì có thể trở thành người tài năng xuất chúng trong lĩnh vực đó.

Các bậc thầy nghệ thuật thời đại nghệ thuật Phục Hưng luôn giữ vững sự thành kính và niềm tin đối với Thần, dốc lòng dốc sức sáng tác những tác phẩm ca tụng Thần. Chính niệm và việc làm của họ có được sự khẳng định và gia trì của Thần. Các nghệ sĩ vào trung kỳ của thời văn nghệ Phục Hưng gồm có Da Vinci, Michelangelo, Raphael, đã nắm vững một cách thần kỳ kỹ pháp vượt rất xa thế hệ trước cũng như những người cùng thời, các tác phẩm hội hoạ, điêu khắc, kiến trúc của họ đã trở thành kinh điển bất hủ của nghệ thuật nhân loại, đã kiến lập nên khuôn thước đỉnh cao cho nhân loại trong hàng mấy trăm năm qua. Thưởng thức và tham chiếu những tác phẩm này, không những có thể khiến những nghệ sĩ thế hệ sau học tập kỹ pháp nghệ thuật thuần chính, mà còn khiến những người phổ thông thể nghiệm một cách chân thực sự quan tâm và chiếu cố của Thần đối với con người. Nếu như người ta gắng sức bảo tồn những tác phẩm nghệ thuật, thủ pháp và tinh thần của họ, thì có thể duy trì mối liên hệ với Thần, cho dù vào lúc khắp cả xã hội nhân loại trượt dốc thì vẫn còn hi vọng quay trở về con đường truyền thống và được cứu.

Âm nhạc cũng đồng dạng như vậy. Một rạp hát opera ở nước Đức có câu như thế này: “Bach đã cho chúng ta ngôn ngữ của Thượng đế, Mozart đã cho chúng ta tiếng cười của Thượng đế, Beethoven đã cho chúng ta ngọn lửa của Thượng đế, còn Thượng đế đã ban cho chúng ta âm nhạc, để chúng ta có thể cầu nguyện mà không cần dùng ngôn ngữ.” Bach cả đời coi việc kính ngưỡng, ca ngợi và cung phụng Thần là nguyên tắc sáng tạo tối cao. Trong tất cả những bản nhạc quan trọng của Bach, đều có thể nhìn thấy 3 chữ cái SDG, tức là viết tắt của câu tiếng La-tinh “Soli Deo Gloria”, nghĩa là “vinh quang thuộc về Thượng đế”.

Đó là cảnh giới cao nhất của nghệ sĩ, cũng chính là sau khi nhận được khải thị của Thần, họ đem sự vật ở thế giới thiên quốc biểu hiện trong không gian vật chất của chúng ta. Trong lịch sử nhân loại những bức hội hoạ và điêu khắc vĩ đại nhất, khúc nhạc kiệt xuất nhất trong âm nhạc cổ điển, đều là của những người tin vào Thần sáng tạo, và trở thành đỉnh cao của nghệ thuật nhân loại.

Nghệ thuật bao hàm ba nguyên tố quan trọng nhất, đó là mô phỏng, sáng tạo và câu thông. Sáng tác nghệ thuật đều là xoay quanh một “chủ đề” nào đó mà tiến hành, “chủ đề” này chính là một loại tín tức [thông điệp] nào đó mà tác giả cố gắng biểu đạt, cho dù hình thức nghệ thuật đó là thi ca, hội hoạ, điêu khắc, nhiếp ảnh, tiểu thuyết, hí kịch, vũ đạo hay điện ảnh. Nghệ sĩ mong muốn đem cái “chủ đề” này truyền đạt vào trong tim của người đọc, người nghe hoặc người xem, quá trình này chính là “câu thông” – tức là để cho người đọc người xem tiếp thu tư tưởng của tác giả, cũng là mục đích sáng tác nghệ thuật.

Để đạt được mục đích câu thông, nghệ sĩ cần có năng lực mô phỏng cao siêu, mà đối tượng mô phỏng lại có thể là thế giới của Thần, thế giới nhân gian hoặc thế giới ma quỷ. Từ cơ sở của “mô phỏng” nghệ sĩ lại thêm vào sự “sáng tạo”, tinh lọc ra nguyên tố sâu sắc hơn, bản chất hơn của đối tượng mô phỏng, [từ đó] tăng cường “sức biểu hiện” hoặc có thể nói “năng lực câu thông” của nghệ sĩ. Nếu như một người sở hữu sự thành kính chính tín vào Thần và có đạo đức cao thượng, Thần sẽ ban cho anh ta linh cảm sáng tác, tác phẩm mà anh ta sáng tác ra là có Thần tính, thuần chính thiện lương, đối với bản thân người đó, khán giả và xã hội đều có lợi ích. Ngược lại, khi người ta mất đi đạo đức, phóng túng ma tính của bản thân, thì tà linh, Sa-tăng và các lạn quỷ linh thể thấp bị chúng khống chế sẽ có thể thừa cơ nhập vào, mượn người đó để miêu tả hiện tượng xấu xí dơ bẩn, thậm chí biểu hiện thế giới của linh thể thấp, ma quỷ, tác phẩm loại này đối với người sáng tác, người xem và xã hội đều có hại.

Hiểu được điểm này, chúng ta không khó lý giải giá trị của nghệ thuật chính thống. Văn hoá nghệ thuật thần truyền đông tây phương là đường thông đạo kết nối văn minh nhân loại đến các Thần khác nhau, điều được truyền tải là những tín tức Mỹ, Thiện, quang minh và hi vọng; còn các loại nghệ thuật biến dị mà tà linh cộng sản thao túng con người bào chế ra lại là khiến cho con người rời xa Thần và tiến gần hơn đến ma quỷ.

2. Ảnh hưởng to lớn của nghệ thuật đối với nhân loại

Tác phẩm nghệ thuật vĩ đại có tác dụng truyền thừa văn minh, giáo dục đạo đức, truyền bá tri thức, hun đúc tình cảm, trong các nền văn minh lớn của đông tây phương đều có địa vị cao thượng.

Nhà toán học, triết học cổ Hi Lạp là Pythagoras cho rằng, sự uyên bác huyền bí của âm nhạc nằm ở việc thể hiện sự mô phỏng con số hài hoà của thiên thể, phản ánh ra phép tắc hài hoà của vũ trụ. Người Trung Quốc cũng có quan điểm tương tự. Trong “Sử ký – luật thư” và “nhạc thư” nêu ra sự đối ứng giữa âm nhạc và ngũ hành, cho đến phương pháp chế tạo nhạc khí, cũng là mô phỏng con số của thiên địa. Chỉ có điều đó mới có thể khiến âm nhạc đạt đến sự hài hoà với thiên địa – tức “sự đồng hoà giữa đại nhạc và thiên địa”. Nhạc như vậy không chỉ có thể mời đến các thần điểu như tiên hạc, phượng hoàng, mà còn có thể mời được Thần tiên.

Khổng Tử từng nói “Văn vẻ rực rỡ thay, ta theo nhà Chu” [1], là bởi vì Khổng Tử sùng bái Chu Công lấy lễ nhạc trị quốc. “Vua Thuấn tạo ra ngũ huyền cầm, ca bài thơ Nam phong mà Thiên hạ trị”, cũng thuyết minh cho tác dụng giáo hoá của âm nhạc thuần chính đối với con người. “Tần Vương phá trận nhạc” của Đường Thái Tông Lý Thế Dân uy phục tứ bề, trong “Tân Đường thư” có ghi chép, khi Huyền Trang đi về Tây lấy kinh, Giới Nhật vương Thi La Dật Đa của Trung Thiên Trúc nói với Huyền Trang : “Vị quân vương của nước các vị là một thánh nhân, đã làm ra ‘Tần Vương phá trận nhạc’”[3]

Hoàng gia nước Pháp thời đại vua Louis XIV thông qua vũ đạo và nghệ thuật đã triển hiện ưu nhã và quy phạm công dân, sự truyền bá vũ đạo không chỉ là kỹ xảo, mà còn có lễ nghi xã giao và quy tắc hành vi. Louis XIV dùng nghệ thuật và văn minh để cảm hoá Châu Âu, khiến Châu Âu và các hoàng gia khác noi theo. Frederick Đại đế của nước Phổ không chỉ là vị vua kiệt xuất, mà còn là một nhà âm nhạc, vừa sáng tác vừa diễn tấu sáo Flute. Ông hạ lệnh sửa chữa viện Opera Berlin, đích thân làm giám đốc Opera, và để cho nhiều giai tầng xã hội đến tiếp xúc với Opera. Cho đến hôm nay, Opera đã trở thành bộ phận cấu thành quan trọng của văn hoá dân tộc Đức. Từ mấy ví dụ nói trên có thể thấy sự truyền bá rộng rãi của nghệ thuật chính thống và sức lan toả của nó.

Nghệ thuật chính thống phù hợp với tự nhiên hay phép tắc của vũ trụ, noi theo trí huệ của Thần, có mang theo tác dụng và lực lượng đặc thù, đối với thân thể và tinh thần của con người thì đều có ảnh hưởng chính diện to lớn. Khi người ta đang thực hiện sáng tác nghệ thuật chính thống, không những thân thể phải chiểu theo yêu cầu kỹ thuật mà tham dự vào trong đó, mà trong quá trình thì sự chuyên chú của tâm linh, sự câu thông giữa linh hồn và chủ đề mà nghệ thuật biểu hiện, thông thường khiến người ta siêu việt khỏi thể nghiệm đặc thù của thế giới vật chất này. Ví như khi hát những bài hát ca tụng Thần, thì sự trang nghiêm cung kính ấy tiếp cận với thể nghiệm về sự huy hoàng mỹ hảo của Thần, khó có thể miêu tả bằng bút mực.

Còn đối với người thưởng thức nghệ thuật mà nói, thì nghệ thuật trở thành tải thể đặc thù mà có thể nối thông đến Thần, đằng sau cô đọng rất nhiều trí tuệ, sáng tạo và linh cảm của con người, thông thường có nội hàm thâm sâu siêu việt khỏi bề mặt, có tác phẩm thậm chí truyền tải năng lượng tinh thần đặc thù. Những điều này đều có thể khởi tác dụng độc đáo đối với con người ở tầng diện linh tính và tinh thần, mà loại tác dụng này thì các biện pháp vật chất khác không cách nào thay thế được.

Về phương diện ảnh hưởng đến đạo đức tinh thần xã hội, một nghệ sĩ tốt, có thể đem giá trị trừu tượng thông qua từng câu chuyện làm lay động lòng người mà rót vào trong tâm của người ta. Mặc dù một người không có học vấn cao thâm, chưa trải qua sự giáo dục tốt, thì cũng sẽ từ trong nghệ thuật nhận được khai mở và tâm linh và hun đúc về đạo đức. Trong xã hội truyền thống, nhận thức về thị phi thiện ác, người phương Tây có bao nhiêu thu hoạch là từ “người cá”, “nàng bạch tuyết” chuyện cổ tích dân gian như vậy, người Trung Quốc được bao nhiêu là từ tứ đại danh tác, chuyện kể dân gian, hí kịch? Còn những tác phẩm triển hiện thế giới thiên quốc kia càng khiến chúng ta cảm thụ được sự vĩ đại của Thần, tâm sinh ra nguyện vọng quy y hướng về phía Thần.

Đồng thời với đó, những giá trị quan bất hảo kia cũng có thể thông qua nghệ thuật mà bất tri bất giác ảnh hưởng đến con người. Giáo sư biên kịch Robert McKee viết trong cuốn sách “Câu chuyện”: “mỗi một câu chuyện hữu hiệu đều sẽ truyền tải đến cho chúng ta một tư tưởng có sức nặng phê phán giá trị, mang cái tư tưởng đó chêm vào trong tâm linh của chúng ta. Sức thuyết phục của một câu chuyện là lớn mạnh như vậy, mặc dù chúng ta phát hiện rằng về mặt đạo đức nó khiến người ta phản cảm, chúng ta vẫn có khả năng sẽ tin vào giá trị mà nó truyền tải” [4].

Nghệ thuật về cả hai phương diện chính phản đều có thể sinh ra ảnh hưởng to lớn đối với giá trị đạo đức, tư tưởng và hành vi của nhân loại. Điểm này cũng không phải nói quá, trong xã hội chúng ta hiện nay, vẫn có thể tìm được rất nhiều ví dụ cụ thể.

“Hiệu ứng Mozart” đã gây được chú ý trên phạm vi toàn thế giới. Giới khoa học đã khai triển rất nhiều nghiên cứu về sự ảnh hưởng chính diện của âm nhạc Mozart lên con người và động vật. Năm 2016, nghiên cứu thâm nhập hơn về hiệu ứng Mozart đã phát hiện, âm nhạc Mozart đối với chức năng nhận biết, hành vi của con người có ảnh hưởng chính diện. Điều khiến người ta kinh ngạc là, phát ngược âm nhạc Mozart thì tác dụng gây ra là hoàn toàn tương phản. Còn âm nhạc vô điệu tính của [Arnold] Schoenberg đối với con người thì gây ra tác dụng vô cùng tương tự với việc phát ngược âm nhạc Mozart, cũng có nghĩa là có ảnh hưởng phụ diện [tiêu cực] [5].

Tương tự như âm nhạc vô điệu tính, tác dụng phụ diện của Rock n Roll còn lớn hơn nữa. Có người từng thống kê dữ liệu của hai thành phố tương tự nhau, ở thành phố mà quảng bá TV với lượng lớn nhạc Rock n Roll thì những trường hợp có con trước hôn nhân, nghỉ học, thanh thiếu niên tử vong, phạm tội .. đều cao hơn so với thành phố phát âm nhạc bình thường là 50%. Rất nhiều nhạc Rock n Roll là ca ngợi tự sát [6], “có những giai điệu của người da đen có tính đại biểu và ca từ khiến người ta uất ức, đều có thể được xem là cổ động tự sát, hơn nữa người trẻ tuổi nghe nhiều nhạc Rock n Roll rồi đi tự sát đã là một hiện thực không thể chối cãi” [7]. Thanh thiếu niên nghe nhạc Rock n Roll rồi theo cách chết được miêu tả trong ca từ rồi tự sát cũng không ít, những tay nhạc Rock n Roll uất ức, lạm dụng ma tuý thậm chí tự sát cũng là một hiện tượng phổ biến. 

Một ví dụ phụ diện khác mà nhiều người biết đến là “thắng lợi của ý chí” của điện ảnh quốc gia Nazi (phát xít). Bộ phim tuyên truyền đó (mặc dù đạo diễn Lenny Reifenstahl bào chữa rằng đó là phim tài liệu) có thủ pháp nghệ thuật cao siêu. Nó triển hiện những cảnh tượng và lực lượng hoành tráng, khiến cho khán giả đồng cảm với lực lượng tinh thần được truyền tải ở đằng sau đó, rất nhiều thủ pháp nhiếp ảnh đi đầu và kỹ xảo cao siêu [trong đó] đã ảnh hưởng đến rất nhiều điển ảnh thế hệ sau này. Nó khởi tác dụng tuyên truyền to lớn cho Hitler và Đức quốc xã, được gọi là “điện ảnh tuyên truyền có mang tính quyền uy nhất”. Năm 2003, “báo độc lập” (The Independent) của nước Anh bình luận: “‘Thắng lợi của ý chí’ đã làm say mê rất nhiều người, khiến họ tán thưởng mà coi nhẹ chủ nghĩa Nazi, không còn nghi ngờ gì nó đã tranh thủ được rất nhiều bạn bè và đồng minh trên toàn thế giới.” [8]

Hiểu được sức mạnh to lớn của nghệ thuật, có thể giúp chúng ta hiểu rõ hơn nữa tầm quan trọng của nghệ thuật truyền thống và tại sao ma quỷ lại muốn làm biến dị nghệ thuật nhân loại.

3. Sự phá hoại và lợi dụng nghệ thuật của tà linh cộng sản 

Do nghệ thuật có tác dụng to lớn đối với việc cải biến xã hội, nên tà linh cộng sản lợi dụng và khống chế nghệ thuật để trở thành thủ đoạn quan trọng cho “kỹ nghệ cải tạo xã hội” (social engineering), điểm này không có gì là kỳ lạ.

3.1 Quốc gia đảng cộng sản lợi dụng và khống chế đối với nghệ thuật

Quốc gia đảng cộng sản biết rõ lực lượng của nghệ thuật, bởi vậy coi nghệ thuật là phương thức tẩy não con người, biến tất cả các hình thức nghệ thuật thành công cụ tẩy não. Rất nhiều người cười nhạo việc Trung cộng có tướng quân ca hát, tướng quân diễn tiểu phẩm, cho rằng những người này chưa hề trải qua huấn luyện quân sự cũng chưa từng cầm súng, chỉ huy chiến tranh thì làm sao xứng là tướng quân? Nhưng trên thực tế, Trung cộng cho rằng những người này về mặt thúc đẩy và duy hộ [bảo vệ] tà giáo cộng sản, thì khởi tác dụng quan trọng cũng tương đương như quân đội, thậm chí quân đội còn không bằng. Từ ý nghĩa này mà nói thì trao cho họ quân hàm cũng là phù hợp với nguyên tắc của đảng cộng sản. Chính như Mao Trạch Đông nói: “Chúng ta cần phải có đội quân văn hoá, đó là một nhánh quân ắt không thể thiếu để đoàn kết chúng ta, chiến thắng kẻ thù”. [9]

Diễn xuất văn nghệ của quốc gia cộng sản là dựa vào phương thức nghệ thuật để cho người dân quên đi những khổ nạn dưới sự thống trị của đảng cộng sản, bồi dưỡng lòng trung thành đối với đảng cộng sản. Loại tuyên truyền và tẩy não đối nội đối ngoại này khởi được tác dụng mà quân đội không cách nào khởi được.

Tại Olympics Bắc Kinh, màn khai mạc hoành tráng mà Trung cộng đã tiêu một lượng tiền lớn, màn đồng diễn ca vũ quy mô lớn “Arirang” kiểu Triều Tiên, đoàn vũ ba lê của Liên Xô cũ, cũng đều là để phục vụ cho nhu cầu của đảng. Tháng 9 năm 2011 tại trung tâm nghệ thuật Kennedy ở thủ đô Washington Mỹ quốc, bộ văn hoá Trung cộng đã tổ chức một tiết mục văn hoá Trung Quốc có tên là “Trung Quốc: một quốc gia nghệ thuật”, ngang nhiên đem lên vũ đài quốc tế vở kịch ba lê mẫu kinh điển đầy thù hận giai cấp và cách mạng bạo lực cộng sản là “hồng sắc nương tử quân”, để “tẩy não” người nước ngoài.

Nếu như có nghệ thuật chính thống, tiếp cận với Thần hoặc nghệ thuật hoằng dương giá trị truyền thống nhân loại đồng thời tồn tại, thì “nghệ thuật” tẩy não sẽ bị nhận biết và mất đi công hiệu tẩy não, thậm chí không cách nào sinh tồn được. Đó chính là vì sao tất cả các quốc gia đảng cộng sản đều có chế độ kiểm duyệt nghiêm ngặt đối với nghệ thuật và ngành xuất bản.

3.2 Tà linh cộng sản ở đằng sau nghệ thuật tiên phong

Rất nhiều thế kỷ qua, nghệ thuật cổ điển được tương truyền qua hàng thế hệ. Loại truyền thống này kéo dài cho đến đầu thế kỷ 20 thì đột ngột ngừng lại, sự truyền thừa nghệ thuật bị các loại “chủ nghĩa” tiền phong và cấp tiến nối tiếp nhau thay thế, nghệ thuật nhanh chóng đi về phía biến dị, “(nghệ thuật) lớn lao, cổ vũ nhân tâm và mỹ lệ đã bị những thứ mới mẻ, khác lạ và xấu xí thay thế.”[10] Tiêu chuẩn nghệ thuật hạ thấp, hạ đến mức không còn tiêu chuẩn nữa, chỉ còn lại cái tôi méo mó biểu đạt. Nhân loại đã mất đi giá trị phổ quát về thẩm mỹ.

Nhìn lại nguồn gốc của tất cả những “chủ nghĩa” hoặc phong trào nghệ thuật mới này, thì đều có quan hệ mật thiết với trào lưu tư tưởng chủ nghĩa cộng sản. Trong đó rất nhiều nghệ sĩ hoặc là đảng viên cộng sản, hoặc là người theo chủ nghĩa cộng sản biến thể, hoặc là người chịu ảnh hưởng bởi những tư tưởng đó.

Uỷ viên văn hoá Hungary của quốc tế cộng sản, người sáng lập chủ nghĩa Marx ở phương Tây là Georg Lukacs đã thành lập học phái Frankfurt, một nhiệm vụ trong đó chính là thông qua bỏ rơi văn hoá, kiến lập nên “hình thức văn hoá mới”, hình thức văn hoá này ắt phải bài trừ “nghệ thuật mô phỏng sáng thế chủ một cách tự giác”. Người theo chủ nghĩa xã hội ở Đức, nhân vật đại biểu cho học phái Frankfurt là Marcuse trong cuốn “Chiều thẩm mỹ” (The Aesthetic Dimension) nói: “Nghệ thuật chống lại và siêu việt khỏi quan hệ xã hội hiện đang tồn tại, nó lật đổ ý thức chiếm vị trí thống trị, cũng tức là kinh nghiệm thường thức.”[11] Cũng có nghĩa là, họ muốn cổ động nghệ thuật đi chống lại Thần, lật đổ đạo đức truyền thống. Loại quan điểm này đã chủ đạo phương hướng của nghệ thuật hiện đại.

Người sáng lập trường phái hội hoạ chủ nghĩa hiện thực nước Pháp là Gustave Courbet là một trong những người tham gia công xã Paris. Ông ta được bầu là “uỷ viên công xã” cũng như chủ tịch tổ chức nghệ sĩ cấp tiến “liên minh nghệ sĩ” (Federation of Artists), dựa vào “nhiệt tình lớn lao” dấn thân vào công tác “cải tạo” chế độ cũ và kiến lập thị hiếu mỹ thuật mới. Dưới chỉ dẫn của Courbet, liên minh đã phá huỷ một toà kiến trúc theo chủ nghĩa tân cổ điển – Đài kỉ niệm Vendôme (về sau được trùng tu). Courbet phủ nhận nhân loại là do Thượng đế tạo ra, cố ý biểu hiện thế giới quan của giai cấp vô sản và chủ nghĩa duy vật. Danh ngôn của ông ta là: “Ta sẽ không vẽ thiên sứ, bởi vì từ trước đến giờ ta chưa nhìn thấy họ.” [12] Courbet vừa làm cách mạng, vừa “cải tạo” nghệ thuật. Tranh của ông ta lấy danh nghĩa “hiện thực”, dùng xấu xí thay cho đẹp, coi việc vẽ người nữ khoả thân, đặc biệt là vẽ bộ phận sinh dục nữ làm “hành động cách mạng”, lấy hiện thực để làm phản và lật đổ truyền thống, phối hợp kích động vận động cộng sản. Từ lý lịch nhân sinh của Courbet có thể thấy được chủ nghĩa cộng sản và nghệ thuật hiện đại từ khi mới ra đời đã gắn bó với nhau một cách mật thiết.

Dưới ảnh hưởng của tư tưởng “hiện đại”, bắt đầu từ mấy chục năm cuối thể kỷ 19, “nhiệt tình cách mạng” của nghệ sĩ đã duy trì ở cao trào, từng cuộc vận động nghệ thuật liên tiếp ra lò. Khác với trường phái truyền thống, những nghệ thuật này là “phong trào tiên phong” theo hình thức đoạn tuyệt. Danh từ “tiên phong” (Avant Garde) sớm nhất đã bị những học giả theo chủ nghĩa xã hội vận dụng vào lý luận nghệ thuật, trở thành tiên phong văn hoá sánh đôi với “cách mạng chính trị”.

Cuối thế kỷ 19, ma quỷ đã an bài trường phái ấn tượng lên ngôi. Kể từ đó, các nghệ sĩ hiện đại đã bắt đầu không đoái hoài đến yêu cầu kỹ thuật của hội hoạ truyền thống về tỷ lệ, kết cấu, luật xa gần, chuyển tiếp sáng tối v.v., lấy việc theo đuổi cảm thụ tự ngã làm sự “tìm tòi” trung tâm. Trường phái tân ấn tượng (trường phái chấm màu) và trường phái hậu ấn tượng lần lượt xuất hiện, lấy Georges-Pierre Seurat và Vincent W. Van Gogh làm đại biểu, hai người này đều có cảm tình với chủ nghĩa xã hội. Van Gogh cực kỳ nát rượu, cuối đời thì bị bệnh tâm thần, tranh của ông ta phảng phất thế giới mà người sau khi hút hít ma tuý xong nhìn thấy.

Tác phẩm nghệ thuật là môi trường câu thông giữa tác giả và người xem, trong tác phẩm mang theo những tín tức [thông điệp] mà tác giả mong muốn biểu đạt truyền tải. Thông điệp mà nghệ sĩ của thời kỳ đỉnh cao văn nghệ Phục Hưng truyền tải cho người xem là Thiện và Mỹ; tác giả nghệ thuật phái hiện đại phóng túng chủ tư tưởng của bản thân, để cho ma và linh thể thấp khống chế đại não của mình, bản thân họ thường xuyên điên điên rồ rồ, thông điệp mà tác phẩm của họ truyền tải là âm ám, phụ diện. Rất nhiều tranh của những hoạ sĩ trường phái ấn tượng như Van Gogh mang đến cho người xem chính là mông lung u ám, ảm đạm chán nản, cảm giác không lý tính.

Sau trường phái ấn tượng là chủ nghĩa biểu hiện và trường phái dã thú, sau nữa là chủ nghĩa lập thể mà Picasso đi đầu. Năm 1944, Picasso đăng báo tuyên bố gia nhập cộng sản Pháp. Trong bài viết “Vì sao tôi trở thành người theo chủ nghĩa cộng sản” của ông ta có viết: “Việc tôi gia nhập đảng cộng sản là một bước logic trong cuộc đời và tác phẩm của tôi, điều này mang lại ý nghĩa.” “Trong khi bị áp bức và phản kháng, tôi không chỉ muốn dùng hội hoạ, mà còn muốn dùng sinh mệnh để chiến đấu.”[13] Picasso cổ xuý cho việc đánh phá phương pháp hội hoạ truyền thống, mỗi loại sự vật trong mắt ông ta đều giống như một đống bùn nhuyễn, tuỳ ý để ông ta nhào nặn, nặn đến mức càng quái dị thì ông ta càng thoả mãn. Quá trình chế tạo quái dị, chính là quá trình không ngừng phá hoại bề mặt bức tranh, khiến nó đạt đến một trạng thái mà khiến người ta xem xong không thể hiểu nổi. Ngay cả những hoạ sĩ trường phái hiện đại cùng với ông ta sáng lập chủ nghĩa lập thể cũng đều không thích tác phẩm “Những cô nàng ở Avignon” của ông ta, cho rằng ông ta đang “ngậm dầu phun lửa”.[14]

Một thành viên của trường phái lập thể là Marcel Duchamp lại phát triển ra “chủ nghĩa DaDa”, lấy phương thức trưng bày vật có sẵn để thực hiện lật đổ và chống lại nghệ thuật truyền thống, vì vậy ông ta được coi là “cha đẻ của nghệ thuật hiện đại phương Tây”, dẫn hướng cho lý niệm “bất kể vật thể nào cũng đều có thể coi là nghệ thuật”. Cương lĩnh hành động của “chủ nghĩa DaDa” nước Đức là sự móc nối trực tiếp với chủ nghĩa cộng sản, tuyên bố rằng: “lấy cơ sở là chủ nghĩa cộng sản cấp tiến, tất cả mọi nam nữ giàu sáng tạo thực hành liên hợp quốc tế cách mạng… lập tức cấm tài sản tư hữu, cùng chia sẻ chung mọi thứ… cần giải phóng toàn nhân loại.”[15]

Chủ nghĩa DaDa cuồng nhiệt phê phán truyền thống, ở nước Pháp nó diễn biến thành chủ nghĩa siêu hiện thực, nhân vật đại biểu cho nó là người của đảng cộng sản André Breton. Ông ta cho rằng, cách mạng chủ nghĩa cộng sản là hình thức cách mạng của lý tưởng. Ông ta phản đối mọi “áp chế” của lý tính, văn hoá và chế độ xã hội, điều này đã đại biểu cho quan điểm điển hình của nghệ thuật hiện đại châu Âu lúc bấy giờ.

Các phong trào nghệ thuật luân phiên không ngừng sau này bao gồm chủ nghĩa trừu tượng, chủ nghĩa tối giản và nghệ thuật Pop art. Chủ nghĩa trừu tượng biểu đạt là những nội dung như cường độ tình cảm, phản ánh sự nổi loạn, vô trật tự, siêu thoát vào hư vô cũng như trốn tránh hiện thực. Đến hậu chủ nghĩa hiện đại, thì hiện thực, thường quy, suy lý và quan niệm đạo đức được công nhận lại còn bị đập nát toàn bộ [16]. Thậm chí còn có tác phẩm “nghệ thuật” trực tiếp lăng mạ Jesus và thánh Maria [17].

Nghệ sĩ trường phái hiện đại cũng không phải đều ủng hộ chính trị cánh tả, nhưng về mặt tinh thần thì tương hợp với chủ nghĩa cộng sản – tức là lấy việc bài xích Thần, thay thế Thần làm xuất phát điểm cho lý tính và sinh tồn của nhân loại. Những thứ “chủ nghĩa” này một khi đắc thế, thì sẽ thể hiện ra hiệu ứng tuyết lăn, cuối cùng về cơ bản sẽ khiến cho nghệ thuật cổ điển triệt để ra rìa.

3.3 Coi xấu thành đẹp, làm điên đảo thẩm mỹ quan truyền thống

Sự xuất hiện của các loại nghệ thuật hiện đại và sự phát triển của chúng về sau này, coi xấu thành đẹp, đã lật đổ triệt để thẩm mỹ quan truyền thống, thậm chí đạt đến mức độ kinh hoàng, khiến người ta không dám coi.

Marcel Duchamp ký tên trên bô tiểu tiện, đặt tên là “suối nguồn” rồi triển lãm ở New York, mặc dù lúc đó bị từ chối trưng bày, nhưng loại “làm xấu” này lại được các nghệ sĩ và học viện nghệ thuật sau này cho rằng là có “tính khai sáng”. Đến bước này, hội hoạ vẽ trên khung tranh bị phủ định chưa từng có, tiếp theo nghệ thuật trang trí mà hưng khởi. Yves Klein tại phòng triển lãm Reese Creel ở Paris năm 1958 đã tổ chức một buổi triển lãm có tên là “không”, tác phẩm được trưng bày chỉ là bốn bức tường trống không không có gì cả.

Vào năm 1965 lãnh tụ tinh thần, nghệ sĩ tiên phong nước Đức Joseph Beuys lấy mật ong và vàng lá trát lên toàn bộ phần đầu, ôm một con thỏ chết lẩm nhẩm hơn 3 tiếng đồng hồ – để “Làm thế nào giải nghĩa tranh cho một con thỏ chết”. Beuys cho rằng “con người ta ai cũng là nghệ sĩ”, có một lần, một người quả thực không thể nhịn được nữa đã chất vấn Beuys: “Ông nói về tất cả mọi thứ dưới mặt trời, ngoại trừ nghệ thuật”. Beuys bình tĩnh trả lời: “Tôi cho rằng tất cả mọi thứ dưới ánh mặt trời đều là nghệ thuật.

Năm 1961, đại biểu nghệ thuật chủ nghĩa hiện đại là Piero Manzoni đã lấy phân của mình bỏ vào trong 90 cái lon để làm tác phẩm nghệ thuật đem bán, đặt tên là “phân của nghệ sĩ”. Năm 2015, một trong những lon phân đã được bán với giá 182,500 bảng Anh ở London, tương đương với 203 nghìn Euro, vào hôm đó có giá đắt gấp hàng trăm lần so với lượng vàng có cùng trọng lượng. Ông ta còn trực tiếp ký tên lên mông của người nữ khoả thân, đặt tên cho những người nữ khoả thân được ông ta ký tên là “điêu khắc sống” rồi đem ra triển lãm.

Còn có nữ giáo sư thoát y rồi lấy cứt chó bôi lên thân và trưng bày, có hoạ sĩ dùng phân của động vật bôi loạn lên các thứ mà vẫn đạt giải thưởng lớn danh giá. Trung Quốc có cái gọi là “nghệ sĩ” khoả thân trần truồng, toàn thân bôi đầy mật ong và dầu cá, để ruồi bám đầy lên thân thể của mình. Những cảnh tượng này khiến người ta cảm thấy sinh mệnh là hạ tiện, xấu xí và kinh tởm [18]. Trong một bộ phim tài liệu là “Cây đu Bắc Kinh” (Beijing Swings) điều tra về “nghệ thuật cực đoan” ở Trung Quốc do đài BBC phát sóng, có cái gọi là hành vi nghệ sĩ, màn biểu diễn là ăn thịt trẻ con chết. Trong phim người dẫn chương trình là Waldemar Januszczak đã bình luận: “Trung Quốc đúng là đang tạo ra nghệ thuật nực cười nhất, đen tối nhất toàn thế giới” [19]. Kỳ thực, đó là kết quả việc con người truy cầu ma tính. Một số cái bẩn thỉu kinh tởm, hạ lưu vô sỉ được gọi là “nghệ thuật hiện đại” kỳ thực sớm đã vượt qua giới hạn chịu đựng của tâm lý loài người, những việc làm hành vi của “trường phái tiên phong” chính là một cuộc “đại cách mạng văn hoá” thật sự trong lĩnh vực nghệ thuật.

Loại trào lưu này khiến cho những người theo chủ nghĩa hiện đại trong giới nghệ thuật như cá gặp nước, còn những người hoạ sĩ thật sự am hiểu kỹ thuật thì cất bước gian nan, những hoạ sĩ nhà điêu khắc thật sự nghiêm khắc tuân theo truyền thống, khắc khổ rèn luyện thì thậm chí đã không còn không gian sinh tồn. Ngay vào năm 1922, hoạ sĩ theo chủ nghĩa tân cổ điển trường phái tiền Raphael là John William Godward do nghiêm cẩn theo phong cách cổ điển tả thực đã phải chịu sự kỳ thị từ giới mỹ thuật tôn sùng phong cách vẽ loạn của Picasso mà tự sát, nghe nói trước khi chết ông còn để lại một câu nói: “thế giới không đủ lớn để đồng thời chứa nổi tôi và một Picasso” [20].

Phương thức mà ma quỷ làm bại hoại âm nhạc cũng lựa chọn thủ đoạn tương tự. Âm nhạc chính thống phù hợp với nhạc lý và quy phạm, âm luật và các loại điệu tính và điệu thức được sinh ra theo đó là có nguồn gốc từ quy luật tự nhiên hài hoà. Vũ trụ mà Thần sáng tạo là hài hoà, con người ta có thể thưởng thức sự hài hoà của vũ trụ, sinh ra mỹ cảm, bởi vì con người cũng là do Thần tạo ra. Âm nhạc vô điệu tính của phái hiện đại bài xích những nguyên tố truyền thống trong âm nhạc như điệu thức, hợp âm và giai điệu, kết cấu thiếu đi sự quy phạm, là sự phủ định đối với âm nhạc cổ điển thần truyền. Âm nhạc vô điệu tính là đối lập với sự hài hoà của vũ trụ, đó cũng là vì sao thính giả bình thường cảm thấy chói tai khó nghe. Các “âm nhạc gia” theo phái hiện đại lại dùng “lý luận thẩm mỹ” để giải thích nói rằng tai của thính giả ắt phải trải qua huấn luyện, quen với loại âm nhạc này rồi thì mới có thể thưởng thức nó.

Người đặt nền móng cho âm nhạc phái hiện đại là Arnold Schoenberg về cơ sở của âm nhạc vô điệu tính, đã đưa ra cái gọi là “hệ thống 12 âm”, đã sáng tạo ra kỹ thuật âm nhạc phản truyền thống. Âm nhạc của Schoenberg lúc đó được cho là phản lại văn hoá âm nhạc nước Đức, là đi ngược lại nguyên tắc thưởng thức, cảm tình, truyền thống và tất cả các nguyên tắc mỹ học. Âm nhạc của ông ta bị người Đức lúc bấy giờ gọi là Co-ca-in (ma túy): “Tác dụng khi diễn tấu nhạc Schoenberg và mở quán co-ca-in gây ra cho người ta là như nhau, co-ca-in là thuốc độc, Schoenberg chính là co-ca-in”[21]. Người phê bình âm nhạc đời sau này đánh giá như sau: “Một minh chứng cho thành tựu to lớn của Schoenberg chính là sau khi ông ta qua đời 50 năm, vẫn còn có sức mạnh khiến cho bất cứ phòng âm nhạc nào trên trái đất trở nên hoàn toàn trống rỗng.”[22]

Thật sự khiến Schoenberg được tiếp nhận rộng rãi là lý luận âm nhạc của nhân vật quan trọng của học phái Frankfurt Theodor W. Adorno. Adorno trong bài viết “Triết học âm nhạc hiện đại” năm 1949 của mình, đã dùng lý luận triết học “luận chứng” rằng kỹ thuật 12 âm của Schoenberg đã đạt đến “đỉnh cao” phát triển sáng tác âm nhạc. Điều này trải đường cho việc những nhà sáng tác âm nhạc và nhà phê bình phái hiện đại thế hệ sau tiếp nhận âm nhạc “hệ thống 12 âm” của Schoenberg một cách rộng rãi [23]. Sau đó Schoenberg được rất nhiều người noi theo, đã khởi tác dụng thúc đẩy cực lớn cho âm nhạc phái tiên phong, làn sóng phái tiên phong cũng lại sinh ra xung kích to lớn đối với giới âm nhạc.

Sau khi dùng âm nhạc phái hiện đại phá hoại truyền thống, “nghệ thuật tiên phong” dùng nhạc Rock n Roll thay thế cho vị trí của nhạc cổ điển trong sinh hoạt của mọi người. Nhân vật dẫn đầu lý luận âm nhạc của đảng cộng sản Mỹ quốc là Sidney Finkelstein đã công khai đòi đả phá giới hạn giữa nhạc cổ điển và nhạc thông tục, điều này đã dẫn đến việc nhạc Rock n Roll với tiết tấu mãnh liệt thâm nhập vào Mỹ quốc về sau này, khiến âm nhạc cổ điển và âm nhạc truyền thống bị ép đến mức chỉ chừa lại một chút không gian sinh tồn cực kỳ chật hẹp.[24]

Đặc điểm của nhạc Rock n Roll là hoà thanh không hài hoà, giai điệu không quy củ, trong âm nhạc chứa đầy tiếng đập phách, xung đột và mâu thuẫn tình cảm, giống như triết học đấu tranh của chủ nghĩa cộng sản. Trong “Sử ký” có viết, chỉ có “âm” phù hợp với đạo đức mới được coi là “nhạc”, còn chủ đề quan trọng trong sáng tác và cuộc sống của người làm âm nhạc Rock n Roll lại là tình, bạo lực và ma tuý.

Sau nhạc Rock n Roll, Mỹ quốc xuất hiện những thứ như hát nói (nhạc rap) và hip hop, phổ biến một thời. Nhạc rap đầy những lời nói tục, lấy ma tuý, bạo lực, lời dơ bẩn để biểu hiện sự phản nghịch đối với truyền thống và xã hội [25]. Thuận theo đạo đức xã hội toàn bộ trượt dốc, những hình thức nghệ thuật mà quá khứ được coi là “văn hoá thứ cấp” này lại xâm nhập vào xã hội chủ lưu, và lại được truy cầu ở điện đường của nghệ thuật chủ lưu.

Trên đây chúng tôi chủ yếu tường thuật hiện trạng của mỹ thuật và âm nhạc. Kỳ thực, toàn bộ giới nghệ thuật đều chịu phải xung kích to lớn, đều đã xuất hiện việc chịu ảnh hưởng của nghệ thuật phái hiện đại, có hiện tượng xa rời ý tưởng sáng tác, thủ pháp, kỹ xảo truyền thống, điêu khắc, kiến trúc, vũ đạo, trang sức, thiết kế, nhiếp ảnh, điện ảnh v.v. đều như vậy. Rất nhiều người làm nghệ thuật phái hiện đại đều từng chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của hình thái ý thức chủ nghĩa cộng sản. Như người sáng lập ra múa hiện đại là Isadora Duncan, bản thân bà là người song tính luyến ái và theo vô thần luận. Bà ta phản đối Ba-lê, cho rằng ba-lê là xấu xí và phản tự nhiên. Bản thân bà này cùng 100 sinh viên dùng “quốc tế ca” làm chủ đề vũ đạo, đã biểu diễn cho Lenin xem ở Matxcova [26].

Những thứ này sở dĩ có thể có chỗ đứng trên thế giới, hình thành trào lưu, thậm chí trở thành chủ lưu, là có quan hệ mật thiết với việc tà linh cộng sản thông qua những người đại diện cho nó trong giới nghệ thuật mà phá hoại nghệ thuật Thần truyền, mà về mặt biểu hiện thì lại có một loại logic lừa mình dối người và lại được đại đa số tiếp nhận: nếu như có một bộ lý luận mỹ học có thể tự bao biện cho nó làm căn cứ, thì cho dù là rác rưởi cũng có thể trở thành nghệ thuật.

Nếu xem xét một cách tỉ mỉ sự khác nhau giữa “nghệ thuật tiên phong” và “nghệ thuật truyền thống”, người ta sẽ phát hiện: nghệ sĩ thời kỳ “văn nghệ Phục Hưng” không chỉ dùng nghệ thuật ca ngợi Thần, mà còn thông qua việc thể hiện cái “đẹp” mà khơi dậy “Chân” và “Thiện” trong tâm người ta, từ đó duy trì đạo đức xã hội; còn các loại “nghệ thuật” biến dị được gọi là tiên phong lại gắng hết sức lật đổ tất cả những thành tựu của thời “văn nghệ Phục Hưng”. Chúng đang dẫn dắt người ta đi thưởng thức cái “xấu xí”. Loại “xấu xí” này khơi dậy “ma tính” trong người ta, khiến cho những tư duy phụ diện âm ám, suy đồi, truỵ lạc, bạo lực cho đến tà ác làm chủ con người, khiến những phong cảnh tráng lệ mà Thần sáng tạo, thần tính, đạo đức trong tự thân người ta cũng như xã hội thêm chia rẽ và làm cho xấu đi, thậm chí trực tiếp lăng mạ Thần, từ đó khiến người ta không chỉ xa rời Thần, mà còn xa rời thần tính nội tại trong tự thân mỗi người, xa rời xã hội và giá trị truyền thống. [27]

3.4 Tà linh cộng sản lợi dụng văn học để huỷ diệt nhân loại

Văn học là một bộ môn nghệ thuật đặc thù. Nó lấy ngôn ngữ làm tải thể, truyền thừa trí tuệ mà Thần ban cho con người, và ghi chép lại kinh nghiệm sống quý báu của nhân loại. Hai bộ sử thi kinh điển của Hi Lạp cổ đại là “Iliad” và “Odyssey” đã triển hiện sinh động những câu chuyện lịch sử khúc chiết phức tạp trước và sau cuộc chiến thành Troy, đã miêu tả chân thực bức tranh rộng lớn Thần nhân đồng tại, cùng nhau tạo nên lịch sử. Những mỹ đức mà sử thi ca tụng như dũng cảm, khảng khái, cơ trí, chính nghĩa, tiết chế, đã trở thành nguồn gốc quan trọng của giá trị quan của nền văn minh Hi Lạp cổ đại và toàn bộ nền văn minh phương Tây.

Thấy được ảnh hưởng to lớn của văn học đối với con người, tà linh thao túng người đại diện ở nhân gian và thế nhân theo đuổi danh lợi không tỏ rõ chân tướng, đã bào chế và quảng bá một lượng lớn “tác phẩm văn học”, nhồi nhét cho thế nhân hình thái ý thức của ma quỷ, phỉ báng văn hoá truyền thống, làm bại hoại đạo đức thế nhân, phát tán cảm giác tuyệt vọng, cảm giác hoang đường, cảm giác hư vô về nhân sinh, khiến người ta thích ứng với thế giới ô trọc tà ác, biến dị dưới sự thống trị của ma quỷ. Văn học trở thành một trong những công cụ quan trọng để ma quỷ thống trị thế giới.

Nhồi nhét hình thái ý thức của ma quỷ trực tiếp nhất là việc những người đi theo đảng cộng sản tuyên truyền tác phẩm các loại của chủ nghĩa cộng sản. Sau khi công xã Paris bị trấn áp, uỷ viên công xã là Eugène Pottier đã sáng tác ra “quốc tế ca”, kêu thét “xưa nay chưa từng có chúa cứu thế, cũng không dựa vào Thần tiên hoàng đế” tuyên bố sẽ “đánh cho thế giới cũ tơi bời tan tác”. “Quốc tế ca” trở thành hội ca của Quốc tế đệ nhất, Quốc tế đệ nhị, cũng là đảng ca của đảng cộng sản Trung Quốc, được sử dụng rộng rãi trong những buổi tụ họp và tác phẩm văn nghệ của những người theo chủ nghĩa cộng sản ở các nước.

Trong lịch sử của Liên Xô và Trung cộng, đảng cộng sản vì để tẩy não dân chúng, nó cũng sai khiến những nhà văn sử dụng kỹ pháp tương đối truyền thống, biểu hiện cuộc sống của “giai cấp vô sản” và “ý thức giai cấp”, giải thích lý luận và chính sách của đảng cộng sản, đã sản xuất một lượng lớn tác phẩm, ví như cuốn tiểu thuyết “Thép chảy”, “Thép đã tôi thế đấy” của Liên Xô, “Bài ca thanh xuân”, “Mặt trời chiếu trên sông Tang Càn” của Trung cộng, đều đã từng khởi tác dụng tuyên truyền to lớn. Đảng cộng sản gọi những tác phẩm theo phong cách này là “chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa”, Mao Trạch Đông khái quát chức năng của loại hình văn nghệ này là “phục vụ công nông binh”, “phục vụ giai cấp vô sản” [28]. Chức năng nhồi nhét hình thái ý thức của loại văn học này vô cùng rõ ràng, về việc này người ta đều đã có nhận thức tương đối rõ ràng. Nhưng thủ đoạn tà linh cộng sản lợi dụng văn học làm bại hoại nhân loại không chỉ giới hạn ở đó, sau đây là tóm tắt những nét chính.

Thứ nhất, lợi dụng văn học phá hoại truyền thống. Một bước đi quan trọng mà tà linh cộng sản huỷ diệt nhân loại là phỉ báng văn minh chính thống mà Thần truyền cho con người. Cho dù là ở Trung Quốc hay là ở phương Tây, tà linh đều lợi dụng những nhà văn có tư tưởng tà ác biến dị, sáng tác và truyền bá những tác phẩm bẻ cong và nhục mạ văn hoá truyền thống. Trong cái gọi là “vận động văn hoá mới” thì Lỗ Tấn – người dựa vào việc công kích một cách độc ác truyền thống mà nhất cử thành danh có thái độ phủ định sạch trơn lịch sử Trung Quốc. Trong tập đầu tiên của cuốn tiểu thuyết “Nhật ký người điên” ông ta mượn lời của nhân vật tuyên bố rằng: lịch sử Trung Quốc chỉ viết hai chữ – “ăn người”. Chính là Lỗ Tấn này, đã được Mao Trạch Đông tâng bốc là “người cầm cờ vĩ đại nhất, anh dũng nhất trong đội quân văn hoá mới”, “chủ tướng của cách mạng văn hoá Trung Quốc”. Mao Trạch Đông nói: “phương hướng của Lỗ Tấn, chính là phương hướng của văn hoá mới của dân tộc Trung Hoa”[29]. Ở châu Âu, năm 1909 nhà thơ Marinetti của Ý đã đăng “tuyên ngôn chủ nghĩa vị lai”, kêu gọi toàn diện phản đối truyền thống, ca ngợi cơ khí, kỹ thuật, tốc độ, bạo lực và cạnh tranh. Nhà thơ nước Nga, người theo chủ nghĩa cộng sản là Mayakovsky năm 1913 đăng “Cái tát vào thị hiếu xã hội”, cũng biểu đạt sự quyết tâm quyết liệt đối với thị hiếu văn học của truyền thống nước Nga.

Thứ hai, lấy danh nghĩa “biểu hiện hiện thực”, biểu hiện xú ác. Nhà văn, nghệ sĩ dùng văn học và nghệ thuật để biểu hiện những sự vật và cảnh tượng xấu xí, kỳ quái, khủng bố, một cái cớ được thường dùng nhất là để “biểu hiện hiện thực”. Trong con mắt của họ, nghệ thuật cổ điển cường điệu sự hài hoà, tính ưu mỹ, rõ ràng, tiết chế, phù hợp, cân bằng, tính phổ biến, tính lý tưởng, tất nhiên sẽ dẫn đến khi biểu hiện hiện thực thì phải tiến hành lựa chọn và gia công, tác phẩm không cách nào làm được chân thực tuyệt đối. Loại quan điểm này xuất phát từ hiểu sai về nguồn gốc và chức năng của nghệ thuật. Nghệ thuật mặc dù có bắt nguồn từ cuộc sống, nhưng nên phải cao hơn cuộc sống thì mới có thể mang lại sự giải trí lành mạnh và dẫn hướng cao thượng cho con người. Bởi vậy, nghệ sĩ khi sáng tác ắt phải tiến hành tuyển chọn, tinh luyện và gia công đối với đối tượng được biểu hiện. Nhất mực cường điệu “tả thực”, trên thực tế là xoá nhoà giới hạn giữa cuộc sống và nghệ thuật. Nếu như loại “tả thực” tuyệt đối này là nghệ thuật, thì những gì mà mỗi người nhìn thấy nghe thấy chính là nghệ thuật rồi, hà tất phải phí nhân lực vật lực để bồi dưỡng nghệ sĩ chứ?

Thứ ba, lợi dụng văn học làm bại hoại đạo đức. Tà linh thao túng người đại diện ở nhân gian của nó, đã chế tạo ra rất nhiều những cái cớ tự thị nhi phi như “biểu hiện cái tôi chân thực”, “viết tự động”, mục đích của nó là khiến thế nhân vứt bỏ tiêu chuẩn đạo đức chính thống, phóng túng mặt ác trong nhân tính. Tỷ như trong phần trước có nói đến người của đảng cộng sản Pháp, nhà thơ Breton trong “tuyên ngôn chủ nghĩa siêu hiện thực”, đã xác định chủ trương của văn học mới như thế này: “chủ nghĩa tự động tâm linh thuần tuý, ý đồ vận dụng loại chủ nghĩa tự động này, lấy khẩu ngữ hoặc văn học hoặc bất kể các phương thức khác để biểu đạt chức năng tư tưởng thật sự. Nó chỉ nghe lệnh từ loại tư tưởng này, không chịu bất kể khống chế nào của lý tính, không dựa vào bất kể mỹ học hoặc thiên kiến đạo đức nào”[30]

Những bài viết “dòng ý thức” có tương quan mật thiết với “viết tự động” của chủ nghĩa siêu hiện thực. Do chịu ảnh hưởng của tâm lý học Freud, bắt đầu từ đầu thế kỷ 20, một số tác gia phương Tây bắt đầu tiến hành sáng tác thực nghiệm “dòng ý thức”. Loại tác phẩm này thông thường lấy tiểu nhân vật (phản anh hùng) làm trung tâm, tình tiết giản đơn, thông qua độc thoại nội tâm, tự do liên tưởng v.v., thể hiện hoạt động tư tưởng bí ẩn của nội tâm con người. Chúng ta biết rằng, trong nhân tính thì thiện ác đồng tại, con người ta trong một đời cần phải trải qua không ngừng tu dưỡng đạo đức và khắc chế tự ngã, không ngừng đề cao bản thân, khiến bản thân trở thành một người tốt với đạo đức cao thượng. Rất nhiều người hiện đại trong tư tưởng đều chứa không ít ác niệm, dục vọng; nếu như dựa vào loại phương thức mặc kệ buông xuôi, không qua điều chỉnh mà đem các loại tư tưởng ý thức của bản thân bày ra trước mặt công chúng, thì cũng bằng như là dùng tư tưởng bất hảo của một người làm ô nhiễm toàn xã hội.

Thứ tư, lấy danh nghĩa “phê phán”, “phản kháng”, phóng túng ma tính. Những nhà văn và nghệ sĩ sinh sống tại thế giới tự do ở phương Tây, dưới ảnh hưởng của tư tưởng phản truyền thống, họ coi tất cả chế độ pháp luật, quy phạm xã hội và những tín điều đạo đức là hạn chế và áp bức. Trong một số tình huống, họ nhìn thấy một số vấn đề nào đó trong xã hội hiện đại, cũng nhìn thấy nhược điểm của nhân tính. Nhưng họ không phải là suy xét và phản ứng một cách có lý tính, mà lại lấy danh nghĩa “phê phán”, “phản kháng”, đi về chủ nghĩa cá nhân cực đoan phóng túng cá tính. Vì vậy, họ không ngại phóng đại ma tính của bản thân, bao gồm hận thù, lười biếng, các loại dục vọng, xung động giới tính, có tính công kích, theo đuổi danh lợi v.v., mượn thủ pháp biến dị để biểu đạt cái gọi là “phản kháng”. Nhưng mà, phóng túng ước thúc tự ngã về đạo đức lại vừa khéo là trúng vào bẫy của ma quỷ, không chỉ không giúp giải quyết vấn đề xã hội, mà ngược lại còn khởi tác dụng thêm dầu vào lửa.

Trong phong trào phản văn hoá sóng gió một thời vào những năm 60 của thế kỷ trước, nhà thơ nước Mỹ là Allen Ginsberg là một trong những đại biểu cho “Thế hệ Beat” (The Beat Generation), cho đến nay được rất nhiều người có ý thức nổi loạn tôn sùng. Trường thi “Tiếng hú” (Howl) của ông ta miêu tả về những sinh hoạt và trạng thái tâm lý cực đoan như nát rượu, lang chạ, tiêm chích ma tuý, kê gian, tự huỷ hoại, chơi gái, chạy trần truồng, bạo lực với cảnh sát, ăn trộm, đi lang thang không mục đích, điên rồ. Thuận theo phong trào phản văn hoá được thể chế thừa nhận, “Tiếng hú” tiến vào các loại tuyển tập văn học, có được địa vị “văn học kinh điển”. Ginsberg thừa nhận bản thân mình những năm đầu là người theo chủ nghĩa cộng sản, và biểu thị không hề hối hận vì điều đó [31]. Ông ta sùng bái Castro và các nhà độc tài cộng sản khác, ngang nhiên cổ xuý đồng tính luyến ái và ái nhi. Từ bản thân Ginsberg có thể thấy được một cách rõ ràng chủ nghĩa cộng sản và chủ nghĩa cá nhân cực đoan là có tính tương đồng.

Thứ năm, lợi dụng văn học truyền bá sắc tình. Từ sau khi bước vào thế kỷ 20, tác phẩm văn học bắt đầu biểu hiện nội dung sắc tình một cách lộ liễu, những tác phẩm với những đoạn khiêu dâm nhan nhản lại trở thành tác phẩm “kinh điển” được người ta tán dương. Rất nhiều nhà bình luận, học giả vứt bỏ trách nhiệm xã hội của mình, tán dương những tác phẩm loại này chân thực thế này, thủ pháp nghệ thuật cao siêu thế nọ. Chúng ta biết rằng, rất nhiều phương diện của đạo đức truyền thống chính là phát huy tác dụng nhờ phương thức cấm kỵ, cho dù có lấy bao nhiêu cái cớ quang minh chính đại để đả phá những cấm kỵ này đi nữa, thì đều là đang làm bại hoại đạo đức con người.

Thứ sáu, để linh thể thấp lạn quỷ thông qua văn học khống chế nhân thể. Mấy chục năm qua, thuận theo việc văn hoá nhân loại ngày càng phức tạp, đã xuất hiện một lượng lớn những cái gọi là “tiểu thuyết loại hình”, bao gồm kinh dị, khủng bố, linh dị, giả tưởng v.v., lạn quỷ linh thể thấp mà tà linh, Sa-tăng thao túng có thể thông qua một bộ phận tác phẩm trong đó xâm nhập, khống chế tư tưởng con người, tiến đến khống chế thân thể người. Điều này sẽ dẫn đến con người bị phi nhân hoá, rất nhiều hiện tượng biến dị hiếm gặp trong lịch sự đều là có liên quan đến việc linh thể thấp khống chế thân thể người.

Có câu thành ngữ: “băng dày ba thước đâu phải bởi cái lạnh một ngày”. Việc văn học nghệ thuật sa đoạ đến mức trở thành công cụ đắc lực của ma quỷ cũng trải qua quá trình tương đối lâu rồi, có liên quan đến nhiều trường phái khác nhau. “Trường phái lãng mạn” đã mở rộng phạm vi biểu hiện cuộc sống của văn học, một số hiện tượng xấu xí, quái dị, trạng thái tinh thần cực đoan, điên rồ của con người, thông qua tác phẩm văn học đã tiến vào thị hiếu của đại chúng. Mấy nhà thơ của “trường phái lãng mạn” nổi tiếng ở Anh quốc bởi không có tính đạo đức trong đề tài viết văn, mà từng bị gọi là nhà thơ “trường phái Sa-tăng”. Chủ nghĩa hiện thực lấy cờ hiệu tái hiện hiện thực, bắt đầu biểu hiện bộ phận thấp hèn hơn trong nhân tính, có những tác phẩm diễn tả quá độ tư tưởng biến dị và hành vi vô đạo đức. Có một nhà phê bình văn học nói rằng chủ nghĩa hiện thực là “chủ nghĩa lãng mạn có bốn chân chạm đất, bò lết ở trên mặt đất”[32]. Chủ nghĩa tự nhiên quy sự sa đoạ đạo đức của con người là do hoàn cảnh xã hội và bệnh tâm thần có tính di truyền trong gia tộc, điều này đã giải phóng cá nhân khỏi trách nhiệm đạo đức. Chủ nghĩa duy mỹ đề xuất khẩu hiệu “nghệ thuật vị nghệ thuật”, nhấn mạnh chức năng của nghệ thuật là cung cấp cho con người sự vui vẻ về cảm quan, chứ không nên gánh vác bất kể chức năng đạo đức nào. Sự thực thì, bất kể tác phẩm nghệ thuật nào cũng đều có ảnh hưởng vi diệu nhưng sâu sắc và lâu dài đối với đạo đức con người. Cổ xuý nghệ thuật không gánh vác chức năng đạo đức, không khác gì mở toang cánh cửa cho nghệ thuật gánh vác chức năng “vô đạo đức”. Không thể phủ định, những trường phái văn học muôn màu muôn vẻ này đã sáng tác ra một số tác phẩm có chuẩn mực nhất định, nhưng trong đó ngư long hỗn tạp, tốt xấu lẫn lộn. Mặc dù không thể nói tà linh cộng sản trực tiếp thao túng những trường phái này, nhưng nhân tố phụ diện trong đó hiển nhiên là biểu hiện sau khi đạo đức con người trượt xuống, chúng đã trải đường cho tà linh cộng sản lợi dụng văn học để làm bại hoại con người.

Khi một người viết văn, thì chuẩn mực đạo đức, trạng thái tinh thần của anh ta đều phản ánh vào trong tác phẩm. Thuận theo việc toàn thể đạo đức nhân loại trượt dốc, thì nhân tố phụ diện trong tư tưởng của quần thể các tác gia cũng dần dần chiếm vị trí chủ đạo, rất nhiều tác phẩm sáng tác ra không những không khiến cho người ta hướng thiện, mà ngược lại còn kéo người ta xuống địa ngục.

Lời kết

Sức mạnh của nghệ thuật là to lớn, nghệ thuật tốt có thể quy chính nhân tâm, nâng cao đạo đức, điều hoà âm dương, thậm chí đạt được câu thông với thiên địa, thần minh.

Nhưng trong hơn một trăm năm qua, tà linh cộng sản thông qua người đại diện của nó tại nhân gian, lợi dụng ma tính và ác niệm trong con người, đã sáng tác ra các tác phẩm “nghệ thuật” với số lượng khổng lồ, chủng loại cực kỳ đa dạng, dẫn dắt người ta phản lại Thần, bài xích Thần, phỉ báng Thần, phản truyền thống, phản đạo đức, làm ma biến toàn thể xã hội, nói rằng kinh thế hãi tục cũng không phải là quá.

So với cái đẹp của nghệ thuật truyền thống, thì nghệ thuật hiện đại hiện nay có thể nói là xấu xí quái ác đến cực điểm, quan niệm thẩm mỹ của nhân loại đã triệt để đảo lộn. “Nghệ thuật tiên phong” vô cùng phổ biến, kiếm tiền vô số. Còn nghệ thuật vốn từng được coi là thanh cao thần thánh, thì hôm nay lại bị giải trí hoá, dung tục hoá, thậm chí ma quỷ hoá một cách cao độ, trở thành đối tượng mà có thể bị đại chúng tuỳ ý tiêu khiển, bóp méo, chế giễu, thậm chí là công cụ để thoả mãn dục vọng và phát tiết ma tính của con người. Giới hạn giữa đẹp và xấu, nhã và tục, thiện và ác hoàn toàn biến mất thậm chí điên đảo. Xấu ác, vô trật tự, âm ám của ma quỷ lại được kiến tạo thành “giá trị phổ quát”, xã hội nhân loại tràn ngập những tín tức ma tính, con người bị cuốn theo, tăng tốc đi đến sa đoạ và huỷ diệt.

Nâng cao đạo đức, tìm lại tín ngưỡng và truyền thống, nhân loại mới có thể bước trên con đường phục hưng nghệ thuật lại lần mới, tái hiện cái đẹp, thần thánh và huy hoàng của nghệ thuật chân chính. #

*********

Tài liệu tham khảo:

[1] Khổng Tử: “Luận ngữ – bát dật”

[2] Tư Mã Thiên: “Sử ký – nhạc thư”

[3] Âu Dương Tu, Tống Kỳ: “Tân Đường thư” quyển 237

[4] Robert McKee, Story: Style, Structure, Substance, and the Principles of Screenwriting (New York: Harper-Collins Publishers, 1997), 129-130.

[5] Yingshou Xing, et al, “Mozart, Mozart Rhythm and Retrograde Mozart Effects: Evidences from Behaviours and Neurobiology Bases,” Scientific Reports Vol. 6, Article#: 18744 (2016), https://www.nature.com/articles/srep18744.

[6] David A. Noebel, The Marxist Minstrels: A Handbook on Communist Subversion of Music, (Tulsa, OK: American Christian College Press, 1974), 58-59.

[7] David Cloud, “Rock Music and Suicide,” Way of Life Literature, December 20, 2000, https://www.wayoflife.org/reports/rock_music_and_suicide.html.

[8] Val Williams, “Leni Riefenstahl: Film-maker Who Became Notorious as Hitler’s Propagandist,” September 10, 2003, https://web.archive.org/web/20090830045819/http://www.independent.co.uk/news/obituaries/leni-riefenstahl-548728.html.

[9] Mao Trạch Đông: “Hội nghị toạ đàm về văn nghệ tại Diên An” – “Mao Trạch Đông tuyển tập” quyển 3

[10] Rober Florczak, “Why Is Modern Art So Bad?” PragerU, https://www.youtube.com/watch?v=lNI07egoefc.

[11] Herbert Marcuse, The Aesthetic Dimension: Toward a Critique of Marxist Aesthetics (Boston: Beacon Press, 1978), ix.

[12] “Gustave Courbet Quotes,” http://www.azquotes.com/author/3333-Gustave_Courbet.

[13] Pablo Picasso, “Why I Become a Communist,” http://houstoncommunistparty.com/pablo-picasso-why-i-became-a-communist.

[14] Robert Hughes, The Shock of the New: The Hundred-Year History of Modern Art—Its Rise, Its Dazzling Achievement, Its Fall (London: Knopf, 1991), 24.

[15] Richard Huelsenbeck and Raoul Hausmann, “What Is Dadaism and What Does It Want in Germany?” in Robert Motherwell, ed., The Dada Painters and Poets: An Anthology, 2nd ed., (Cambridge, MA: Belknap Press, 1989).

[16] Michael Wing, “Of ‘-isms,’ Institutions, and Radicals: A Commentary on the Origins of Modern Art and the Importance of Tradition,” The Epoch Times, March 16, 2017, https://www.theepochtimes.com/of-isms-institutions-and-radicals_2231016.html.

[17] Katherine Brooks, “One of The World’s Most Controversial Artworks Is Making Catholics Angry Once Again,” Huffington Post, May 13, 2014, https://www.huffingtonpost.com/2014/05/13/piss-christ-sale_n_5317545.html.

[18] Arnaud Hu, “Phiếm đàm về nghệ thuật ngày nay”, Chánh Kiến Net ngày 30-4-2017 https://www.zhengjian.org/node/158434

[19] “’Baby-eating’ Artist Sparks TV Row,” BBC News, December 30, 2002,http://news.bbc.co.uk/2/hi/entertainment/2614643.stm.

[20] “John William Godward: Biography,” Heritage Auctions.

[21] Walter Frisch, ed., Schoenberg and His World(Princeton, N.J.: Princeton University Press, 1999), 94.

[22] Norman Lebrecht, “Why We Are Still Afraid of Scoenberg,” The Lebrecht Weekly, July 8, 2001, http://www.scena.org/columns/lebrecht/010708-NL-Schoenberg.html.

[23] Golan Gur, “Arnold Schoenberg and the Ideology of Progress in Twentieth-Century Musical Thinking,“ Search: Journal for New Music and Culture 5 (Summer 2009), http://www.searchnewmusic.org/gur.pdf.

[24] David A. Noebel, The Marxist Minstrels: A Handbook on Communist Subversion of Music, 44-47.

[25] Jon Caramanica, “The Rowdy World of Rap’s New Underground,” New York Times, June 22, 2017, https://www.nytimes.com/2017/06/22/arts/music/soundcloud-rap-lil-pump-smokepurrp-xxxtentacion.html.

[26] “Politics and the Dancing Body,” https://www.loc.gov/exhibits/politics-and-dance/finding-a-political-voice.html.

[27] Michael Minnicino, “New Dark Age: Frankfurt School and Political Correctness,” Fidelio Magazine, Volume 1, Number 1 (Winter 1992), https://www.schillerinstitute.org/fid_91-96/921_frankfurt.html.

[28] Mao Trạch Đông: “Hội nghị toạ đàm về văn nghệ tại Diên An” – “Mao Trạch Đông tuyển tập” quyển 3

[29] Mao Trạch Đông: “Luận về chủ nghĩa dân chủ mới” – “Mao Trạch Đông tuyển tập” quyển 3

[30] André Breton, “Manifesto of Surrealism,” https://www.tcf.ua.edu/Classes/Jbutler/T340/SurManifesto/ManifestoOfSurrealism.htm.

[31] Allen Ginsberg, “America,” https://www.poetryfoundation.org/poems/49305/america-56d22b41f119f.

[32] Irving Babbitt, Rousseau and Romanticism (Boston: Houghton Mifflin,1919), 104.

Bài gốc: http://www.epochtimes.com/b5/18/6/20/n10499093.htm

Ngày đăng: 4-09-2019